NHẬN DẠNG MỘT SỐ LOẠI HẠT CÀ PHÊ PHỔ BIẾN

Vì sức khỏe, hãy chọn cà phê sạch

Cây cà phê

1.    Cafe Chồn

Vì sức khỏe, hãy chọn cà phê sạch

Cà phê Chồn

*Nguồn gốc:

Loài cầy vòi đốm thuộc họ Cầy. Loài này phân bố rải rác ở các nước vùng Đông Nam Á như Indonesia, Philippines, Việt Nam và miền nam Trung Quốc. Ở Việt Nam người ta nuôi cầy vòi hương để làm ra loại cà phê đặc biệt này.

*Quá trình:

Trong quá trình nhai gặm, hạt cafe đi qua dạ dày và ruột chồn, các enzym men tiêu hóa trong hệ  tiêu hóa của chồn hương đã thấm vào lớp vỏ trấu đã bị bào mòn, thấm nhẹ vào nhân cà phê đã bẻ gãy các phân tử hương và vị trong cấu tạo hữu cơ của hạt cà phê. Khi hạt cà phê do chồn hương ăn, thải phân ra được xử lý làm sạch mọi vết bẩn và yếu tố không an toàn thực phẩm, được rang theo một kỹ thuật thì sẽ có một loại cà phê chồn thành phẩm. Diễn viên người Anh John Cleese đã tả rằng: “nó vừa có vị bùi bùi của đất, lại ngai ngái như bị mốc, vừa dìu dịu, lại giống như nước sirô, đậm đà như mang theo âm hưởng của rừng già và của sôcôla.”

Đúng ra thì chỉ có phần thịt cà phê được lên men tiêu hoá. Hạt cà phê còn có lớp vỏ cứng bảo vệ, cho nên nếu như có chịu tác dụng của enzym đi chăng nữa thì tác dụng đó cũng là rất nhỏ. Để đảm bảo sức khỏe cho chồn, vào những tháng có cà phê, chồn sẽ không ăn cà phê suốt mà cách 3 ngày ăn một lần, các ngày khác sẽ ăn cháo gà, cháo đường, thịt gà, trái cây.

*Mùi vị:

Trên thực tế chất lượng hạt cà phê sau khi qua dạ dày loài cầy vòi hương có thay đổi nhưng không nhiều. Nhìn chung vẫn giữ lại một phần hương vị cà phê nguyên chất, nếu chịu khó cảm nhận bạn có thể nếm được vị bùi bùi, dìu dịu vừa ngai ngái, phảng phất mùi của khói và hương vị sô cô la. Nhiều người uống loại cà phê này không chỉ vì hương vị mà còn vì đẳng cấp của nó.

Những người đã trải nghiệm loại cà phê này nhận xét rằng cà phê chồn có vị thơm ngon đặc biệt so với các loại cà phê thông thường khác. Một ly cà phê chồn hòa quyện của rất nhiều hương vị. Nó được miêu tả là có “mùi mốc” rất hấp dẫn, ngọt ngào như sirô, hương vị đậm đà và thoang thoảng vị caramel và sôcôla, đắng nhưng rất dễ chịu.

2.    Arabica

Còn gọi là Cà Phê Chè do loại cà phê này có lá nhỏ. Cây cà phê Arabica cao từ 2-5m, ở Việt Nam cây thường để thấp giống cây chè một loài cây công nghiệp phổ biến ở Việt Nam. Arabica có bộ rễ dài, ăn sâu vào lòng đất, nên dễ dàng hút được nước và dưỡng chất ở những tầng địa chất sâu. Cây có giá trị kinh tế cao nhưng khó trồng và khó chăm sóc, năng suất thấp, khả năng chống chịu sâu bệnh kém. Loại cà phê này chiếm 2/3 sản lượng cà phê hiện nay trên thế giới và được trồng chủ yếu ở Brazil. Arabica được trồng ở độ cao từ 900-2000m (so với mực nước biển), lượng mưa 1.500-2.500mm/năm, nhiệt độ thích hợp từ 15-25°C, cây cần ít nắng và có thể phát triển tốt ở trong bóng râm. Arabica đặc trưng bởi vị chua thanh và đắng nhẹ, hương cà phê phong phú và hài hoà với sự kết hợp của trái cây tươi, vị ngọt của mật ong. Trong chi Arabica chia ra khá nhiều dòng khác nhau. Tuy nhiên VN chỉ trồng 3 dòng chính sau: Typica, Bourbon và Catimor, được trồng chủ yếu ở Cầu Đất, Đà Lạt.

Vì sức khỏe, hãy chọn cà phê sạch.

Hạt cà phê Arabica

**Dòng Typica:

Typica được xem là đời đầu của các giống cà phê thuộc chi Arabica, là cơ sở lai tạo và phát triển các giống cà phê khác trên toàn thế giới. Typica chính là nguồn gốc sinh ra những giống cà phê đột biết nổi tiếng như Jamaican Blue Mountain, San Ramon, Pache, Villalobos, Java, Kent….v.v. Typica thích hợp trồng ở những vùng khí hậu mát mẻ và lạnh, độ cao 1.200-1.800m so với mực nước biển. Năm 1857, người Pháp đưa cà phê Typica vào trồng ở Việt Nam, và khu vực Cầu Đất (Đà Lạt) đợt đó gần như chỉ có Typica và Bourbon – hai giống cà phê cực tốt. Cây cà phê Typica có dạng hình nón với một thân chính mọc thẳng và nhiều nhánh mọc xiên tạo thành với thân chính góc từ 50-70 độ, cây cao từ 3,5-4m. Chất lượng cà phê Typica tuyệt vời thể hiện ở vị chua thanh trong trẻo, đắng dịu, hương thơm quyến rũ, hậu vị ngọt ngào với thể chất mạnh. Tuy nhiên, khả năng chống chịu sâu bệnh kém, năng suất thấp nên Typica dần được thay thế bằng giống Catimor. Nhìn trực quan, hạt cà phê Typica hình bầu dục, kích thước hạt nhỏ, thường dài hơn hạt Bourbon. Hiện nay loại cà phê này gần như đã được thay thế hoàn toàn bởi cà phê Catimor

Vì sức khỏe, hãy chọn cà phê sạch

Quả và Hạt cà phê Typica

**Dòng Bourbon:

Bourbon là dòng cà phê đột biến tự nhiên thuộc chi Arabica. Bourbon phát triển tốt nhất ở độ cao 1.100-2.000m so với mực nước biển, năng suất cao hơn Typica 20-30%, nhưng vẫn được xem là thấp, chất lượng tương đương Typica. Cây Bourbon không mang hình nón rõ ràng như Typica, nhưng phân cành nhiều hơn, các nhánh phụ phát triển ở một góc nhỏ hơn so với thân chính, lá rộng và có hình lượn sóng ở rìa, quả của cây tròn, nhỏ và khá nặng, chín rất nhanh và dễ rụng khi có gió hoặc mưa to. Khi chín quả thường có màu đỏ, đôi khi màu vàng hoặc màu cam, hạt nhỏ. Đây là giống cà phê có hàm lượng tính axit hữu cơ phong phú nên vị của nó chua cam nhẹ hơn Typica, hương trái cây, thể chất tốt, hậu vị vang đỏ, thanh ngọt. Hiện nay giống cà phê Bourbon đang dần được thay thế bằng giống Caturra (là giống đột biến của Bourbon, được phát hiện ở Brazil), bởi khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn và năng suất cao hơn. Ở VN, giống cà phê này được trồng chủ yếu ở Cầu Đất, Đà Lạt. Các giống cà phê thương mại thuộc dòng Bourbon như: Moka, SL28, Pacas, K7, SL34, Tekisic, Jackson, Mibirizi, v.v. *Giống Moka (Cầu Đất, Đà Lạt):  Moka hay mocha – khởi nguyên là tên của một thành phố cảng Mocha ở Yemen do một Giáo sĩ đã tìm ra, được người Pháp mang vào Việt Nam năm 1875. Lá của cây cà phê Moka rộng, trái tương đối nhỏ và nặng. Ở Việt Nam, Moka chủ yếu được trồng ở Cầu Đất, Đà Lạt do nơi đây được thiên nhiên ưu đãi ban cho điều kiện lí tưởng để trồng loại cà phê này. Cà phê Moka Cầu Đất được mệnh danh là bà hoàng của các loại cà phê nhờ hương thơm sâu lắng, nhẹ nhàng, quyến rũ với vị chua thanh, ngọt nhẹ, đắng dịu độc đáo, hấp dẫn một cách đặc biệt, màu nước vàng đậm hổ phách. Tuy cùng thuộc một chủng Arabica nhưng Moka lại có năng suất thấp và sức chống chịu thấp hơn hẳn Catimor, lại thường xuyên bị sấu bệnh, nên dần dần, người ta đã phá bỏ loại cà phê này mà mở rộng diện tích trồng Catimor cho năng suất cao hơn. Hiện nay, tuy có nhiều cố gắng khôi phục lại giống cà phê quý này, nhưng Moka vẫn còn rất hiếm và do đó giá cà phê nhân Moka rất cao.

Vì sức khỏe, hãy chọn cà phê sạch.

Trái & hạt cà phê Bourbon

**Dòng Catimor:  

Là giống được lai tạo giữa Timor (thuộc chi Robusta) và Caturra (thuộc chi Arabica). Catimor là giống cà phê thuộc dạng thấp cây, cành đốt ngắn, bộ tán che kín thân, cây khỏe, kháng sâu bệnh tốt (bệnh gỉ sắt và sâu đục thân), có khả năng trồng dày, cho năng suất cao – thường là bằng hoặc hơn các loại giống cà phê thương mại khác. Về chất lượng, phê Catimor luôn luôn kém hơn so với các giống Arabica thuần chủng khác, chủ yếu là do ảnh hưởng của Robusta trong chủng Timor. Hạt cà phê Catimor có hình bán cầu tròn, nhỏ, khá giống với Arabica bourbon, khi pha sẽ có nước màu nâu nhạt sánh, khi thưởng thức có mùi vị đắng rất đa dạng, hơi chua, mùi thơm nồng nàn (tuy nhiên vẫn kém xa Moka). Mặc dù Catimor được lai tạo bởi giống thuộc chi Robusta với giống thuộc chi Arabica, nhưng Catimor không thích hợp trồng ở đất Tây Nguyên vì trái chín trong mùa mưa và không tập trung, nên mất nhiều chi phí cho công đoạn thu hoạch. Hiện nay Catimor được trồng tập trung ở các vùng Điện Biên, Sơn La, Quảng Trị, Lâm Đồng…. và chiếm phần lớn sản lượng cà phê Arabica của Việt Nam.

* Đặc điểm chung của các giống cà phê thuộc chi Arabica:

  • Hình dáng: Hạt hơi dài (elip), rãnh ở giữa hạt thường có hình lượn sóng
  • Màu sắc hạt sau rang: Màu nâu nhạt
  • Hàm lượng Cafein : 1-2%
    Hương vị : Vị ngọt, chua thanh và mùi hương thơm nồng nàn quyến rũ, hậu vị đắng nhẹ.
  • Khu vực trồng: Cầu Đất, Đà Lạt (10% trong số diện tích cà phê ở Đà Lạt là cà phê Arabica)
Vì sức khỏe, hãy chọn cà phê sạch.

Trái & Hạt cà phê Catimor

3. Robusta (C.Canephora)

Còn gọi là cà phê vối, được trồng ở độ cao từ 600-900m so với mực nước biển, lượng mưa 2.200-3.200mm/năm, ưa khí hậu nhiệt đới, chịu hạn kém do bộ rễ ngắn không thể ăn sâu vào lòng đất. Tuy nhiên cây có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, dễ trồng và cho năng suất cao, nhưng giá trị thường thấp hơn cà phê Arabica. Quả hình trứng hoặc tròn, khi chín có màu đỏ thẫm, hạt nhỏ hơn hạt Arabica. Cây cà phê Robusta cao từ 5-7m, trong tự nhiên có thể lên đến 10m, được trồng chủ yếu ở các nước Đông Nam Á, Châu Phi hoặc Châu Mỹ Latinh. Việt Nam, Brazil và Indonesia thường là những nhà cung cấp hàng đầu thế giới về loại cà phê giàu năng lượng này. Cà phê Robusta chiếm 1/3 lượng cà phê trên toàn thế giới. Ở VN gần 90% diện tích cà phê là cà phê Robusta và được trồng ở các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Đồng Nai, Bình Phước, Bà Rịa Vũng Tàu, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Nghệ An, Hà Tĩnh, Điện Biên, Sơn La. Tuy nhiên, mùi vị của cà phê Robusta sẽ có chút khác biệt tại các vùng miền do điều kiện tự nhiên và khí hậu, vậy nên nếu ai có thắc mắc nơi đâu có cà phê Robusta ngon nhất thì câu trả lời là Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) – nơi được xem là thủ phủ cà phê lớn nhất nước ta hiện nay.

Vì sức khỏe, hãy chọn cà phê sạch

Cà phê Robusta (Cà phê Vối)

Robusta có 2 dòng:

  1. Robusta Sẻ:

Gốc thuần không lai tạo, cho ra chất lượng đậm đà hơn so với dòng cao sản. Hạt nhỏ, nhưng chắc và nặng.

  1. Robusta Cao Sản:

Dòng này được viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây nguyên chọn lọc nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép non nối ngọn trong chương trình tái canh cây cà phê gồm một số giống chính là: TR4 ; TR5 ; TR6 ; TR7; TR8; TR9; TR11; TR12; TR13. Dòng cao sản cho sản lượng và năng xuất cao, chống chịu sâu bệnh tốt nhưng chất lượng không ngon bằng dòng Robusta Sẻ, được dùng để chiết xuất axít chlorogenic (CGA) – một dạng chất chống ôxy hóa giúp bảo vệ thần kinh và là thành phần ngăn giảm ôxy huyết hoặc làm cà phê hòa tan.

* Đặc điểm cà phê Robusta:

  • Hình dáng : Hạt nhỏ hơn Arabica và hơi tròn, rãnh giữa thường có đường thẳng
  • Màu sắc hạt sau rang : Màu nâu đậm hơn hạt Arabica và to hơn một ít so với ban đầu rang xay.
  • Hàm lượng cafein : 1.7-4.0%
  • Hương vị : Vị đắng đặc trưng, hương thơm nhẹ hơn Arabica.
  • Khu vực trồng chủ yếu: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng

04. Cà phê Liberica

Cà phê Liberica hay còn gọi là cà phê mít vì lá to, xanh đậm, nhìn xa giống cây mít. Cây có khả năng chịu hạn và chống sâu bệnh tốt, cây cao từ 2-5m, quả to, hình bàu dục, khi chín có màu đỏ vàng, sáng bóng đẹp. Liberica thích hợp với những khu vực có độ cao trung bình, được trồng chủ yếu ở các nước thuộc khu vực Đông Nam Á, tại Việt Nam Liberica được trồng chủ yếu tại Nghệ An, Gia Lai, Kontum và Buôn Ma Thuột. Cà phê Liberia khi pha dậy mùi hương thoang thoảng như mít và có vị chua nhẹ, chất lượng không cao, nên ít được ưa chuộng và phổ biến như cà phê Robusta và Arabica. Sản lượng thấp và thường được sử dụng để phối trộn với các loại cà phê khác. Loại cà phê này phù hợp với phái nữ.

* Đặc điểm cà phê Liberica:

  • Hình dáng: Hạt hình giọt nước và to hơn so với các loại cà phê khác
  • Hàm lượng cafein: cao hơn Arabica nhưng thấp hơn Robusta, ≈ 2%
  • Hương vị : vị chua nhẹ, thoang thoảng mùi mít
  • Khu vực trồng chủ yếu: Nghệ An, Gia Lai, Kontum và Buôn Ma Thuột
Vì sức khỏe, hãy chọn cà phê sạch

Liberica/ Excelca (Cà phê Mít)

04. Culi

Hạt tròn to bóng mẩy, điểm đặc biệt so với các loại cà phê khác là cà phê culi chỉ có một hạt duy nhất trong một trái nên hương vị của loại cà phê này cũng được phát triển mạnh mẽ và đậm đà hơn. Trong một vụ mùa thì chỉ có khoảng 5% loại hạt này và người trồng đôi khi phân loại chúng sau khi chế biến để bán như một loại sản phẩm cà phê đặc biệt. Cà phê culi vị đắng gắt, hương đậm, nước đen sóng sánh.

* Đặc điểm cà phê Culi:

  • Hình dáng: Hạt bầu tròn, trong một trái chỉ có duy nhất một hạt
  • Màu sắc hạt sau rang : màu nâu đậm, hơi đen
  • Hàm lượng cafein: từ 2.0-4.0%
  • Hương vị : Vị đắng gắt đặc trưng, hương thơm nhẹ
Vì sức khỏe, hãy chọn cà phê sạch.

Hạt cà phê Culi rang mộc

Add Comment

0898.30.89.39